| Chủ động ngăn ngừa cạnh tranh không lành mạnh lĩnh vực VT DĐ và internet |
|
|
|
Viễn thông di động là một trong những dịch vụ có bước phát triển rất nhanh, đóng góp lớn nhất cho sự phát triển của viễn thông Việt Nam thời gian qua. Thị trường đã rất quen thuộc với các thương hiệu viễn thông di động như Viettel, MobiPhone, VinaPhone, S-Phone, EVN Telecom…. Trong đó Vinaphone, Mobifone, Viettel là ba nhà cung cấp dịch vụ di động lớn nhất, hiện chiếm 90,3% tổng thị phần trên thị trường. Thời gian qua, người tiêu dùng đã chứng kiến các DN này đua nhau hạ giá cước, cạnh tranh nhau về các dịch vụ giá trị gia tăng, nhất là “cơn bão” giảm giá dịch vụ trong năm 2007-2008 hay việc tung ra bán một cách tự do các Sim card mới. Việc cạnh tranh trên, bên cạnh mặt tích cực, giúp người tiêu dùng được tiếp cận, sử dụng dịch vụ với chi phí rẻ hơn thì cũng đã bộc lộ một số hạn chế làm ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của ngành viễn thông. Giá cước giảm, chất lượng dịch vụ không được cải thiện, tình trạng tắc nghẽn mạng và khiếu kiện của khách hàng gia tăng. Việc bán thêm các Sim card mới đã tạo nên phức tạp trong quản lý xã hội như không xác định chủ thuê bao khi có nguồn thông tin quấy phá, vi phạm thuần phong mỹ tục, an ninh quốc phòng … và gây lãng phí tài nguyên đầu số trong viễn thông đi động. Trước những hiện tượng trên, cơ quan chức năng phải vào cuộc, bắt buộc công bố tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ, tăng các cuộc kiểm tra, giám sát quy trình cung cấp dịch vụ và buộc đăng ký thông tin cá nhân đối với chủ thuê bao trả trước. Mức độ cạnh tranh trên thị trường viễn thông di động là rất cao, cuộc đua về giá cước, cạnh tranh trong các sản phẩm dịch vụ gia tăng giữa các nhà mạng lớn đã, đang và sẽ diễn ra ngày một khốc liệt. … tới Internet Lĩnh vực Internet đã có sự chuyển biến mạnh từ độc quyền sang cạnh tranh, chất lượng dịch vụ ngày càng nâng cao, giá cước ngày càng hạ. Toàn quốc hiện có 49 giấy phép ISP (cung cấp dịch vụ Internet), song lượng DN thực sự triển khai cung cấp dịch vụ này không nhiều. Các thương hiệu cung cấp Internet lớn là VNPT, Viettell, EVN Telecom, FPT Telecom, Hanoi Telecom, VTC, Saigon Postel, SCTV, Netnam …Từ công nghệ dial-up, nay ADSL đã trở nên phổ biến đến từng hộ gia đình với số người sử dụng trên 22 triệu người, tỷ lệ người sử dụng Internet Việt Nam đã vượt Thái Lan, Trung Quốc và đạt mức bình quân cao trên thế giới. Các tổ chức quốc tế cũng xếp hạng Việt Nam có tốc độ phát triển Internet đứng Top đầu toàn cầu hiện nay. Mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực Internet tại Việt Nam cũng trở nên khá quyết liệt, nhất tại các thành phố lớn. Hành vi cạnh tranh ở lĩnh vực này tập trung vào vào khuyến mại, giảm giá cước. Sư bùng nổ nhu cầu, số lượng thuê bao băng thông rộng ADSL, việc kết nối băng thông rộng giữa Việt Nam và quốc tế liên tục được nâng cấp, đã kéo các ISP vào việc giảm giá, khuyến mại liên tục trong thời gian qua và đưa mức cước ADSL Việt Nam thấp hơn so với mức trung bình của khu vực Đông Nam Á. Đã xảy ra tình trạng quảng cáo về chất lượng đường truyền, tốc độ tải dữ liệu trên ADSL cao hơn thực tế và không đạt chuẩn. Theo các chuyên gia, thời gian tới thị trường dịch vụ Internet duy trì tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 10% vì thế sẽ là một thị trường nhiều cạnh tranh trong tương lai. Để ngăn ngừa xu hướng cạnh tranh không lành mạnh Để ngăn ngừa xu hướng cạnh tranh không lành mạnh, chèn ép đối thủ thông qua giảm giá cước, đặc biệt là từ các DN lớn, chiếm thị phần khống chế trong lĩnh vực viễn thông di động và viễn thông Internet, trong năm 2007-2008, Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành nhiều quyết định quy định danh mục dịch vụ, quản lý giá cước đối với các DN chiếm thị phần khống chế, giúp ngăn chặn được một phần việc liên tục giảm giá trong viễn thông di động, Internet. Nhưng sau khi được đưa vào diện quản lý giá, các ISP chiếm thị phần khống chế vẫn tiếp tục giảm giá thông qua hình thức khuyến mại cước thuê bao, tăng hỗ trợ thiết bị đầu cuối… Theo báo cáo của Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công Thương, để hạn chế độc quyền tự nhiên (do đã được cấp phép tần số trong dịch vụ viễn thông di động), độc quyền Nhà nước (đối với giấy phép phát triển hạ tầng mạng trong dịch vụ Internet), cơ quan chức năng cần chủ động xây dựng khung pháp lý về thủ tục, điều kiện kết nối, giá kết nối, chất lượng kết nối … vào mạng của nhà cung cấp có hạ tầng. Hành lang pháp lý này sẽ giúp ngăn chặn các DN có thị phần chi phối, có hạ tầng mạng chèn ép các DN khác không có lợi thế và tạo cơ hội cho các DN mới tham gia thị trường. Cơ quan chức năng cũng nên thực hiện nghiêm túc việc quản lý giá dịch vụ đối với DN chiếm thị phần khống chế, ngăn chặn tình trạng cung cấp dịch vụ dưới giá thành, khuyến mại không lành mạnh, các giải trình về việc giảm giá cần được xem xét, đánh giá kỹ; tuy nhiên, cũng không nên ngăn cản giảm giá theo xu hướng tích cực có lợi cho người tiêu dùng. Ngoài ra, nên tăng cường giám sát các tiêu chuẩn, dịch vụ viễn thông di động, Internet để đảm bảo khách hàng được sử dụng đúng chất lượng đã được nhà cung cấp công bố. Khi thị trường đến mức bão hoà, để mở rộng thị phần sẽ có xu hướng sát nhập, mua lại các nhà cung cấp từ các đối thủ cạnh tranh, vì thế nên thực hiện giám sát các hoạt động M&A trong lĩnh vực viễn thông di động và Internet đúng Luật Cạnh tranh. |





(VEN) - Cạnh tranh ngày càng quyết liệt, từ viễn thông di động…



















